|
BÀN VỀ TẬP THƠ LỮNG THỮNG XANH CỦA NGUYỄN ANH NÔNG, NXB VĂN HỌC NĂM 2010) 1- NGUYỄN BAO: TẢN BƯỚC CÙNG LỮNG THỮNG XANH 2- 2- LÊ VĂN VỌNG: ĐỌC LỮNG THỮNG XANH 3- PHẠM THUẬN THÀNH: VỚI NGƯỜI THÁCH THỨC CHÍNH MÌNH 4- ĐINH QUANG TỈNH (BA TỈNH): NHỊP ĐIỆU BA; NHỮNG HÒN BI VE 5- CHU VĂN SƠN: HỒN RAU MÁ &&&&&&&&&&&&&&(TỔNG HỢP TỚI 15/12/2011) &&&&&&&&&&&&&&& TẢN BƯỚC CÙNG “LỮNG THỮNG XANH” (Đọc LỮNG THỮNG XANH của Nguyễn Anh Nông, NXB Văn học, 2010) NGUYỄN BAO Với Nguyễn Anh Nông, một tác giả đồng hương đang làm việc ở Điện ảnh Quân đội, ấn tượng luôn luôn đậm nét trong tôi: một cây bút xông xáo, mạnh mẽ và trường lực! Tôi đã đọc 6 tập thơ và trường ca của anh được công bố trong gần ba mươi năm. Tôi cũng đã đọc bản thảo của vài tập trường ca và hàng ngàn bài thơ ngắn, cực ngắn như một nét tốc họa giữa cuộc đời bề bộn, ngổn ngang đang cuộn chảy, sôi sục… Giờ đây, tôi muốn nói về tập thơ mới nhất, với cái tên sách nhiều gợi cảm, tỉa ra từ cánh rừng, ào ạt gió, rậm rạp lá cành của hơn nghìn bài thơ ngắn. Tên sách “ Lững thững xanh” gợi cho ta sự lắng đọng, trầm tĩnh đồng thời cũng ẩn chứa cuộc sống đa chiều như nó vốn có. Thấp thoáng đằng sau “ Lững thững xanh” là bóng dáng một con người đã đi qua nhiều năm lửa đạn, đã trải qua bao ghềnh thác của dòng sông- đời người… nay lắng lại trong trẻo và đáy nước soi thấu trời xanh, gạn lọc bao nỗi niềm nhân thế và lưu lại những gì đáng nhớ nhất còn đọng lại trong tâm tưởng và cảm xúc: những gì tinh khiết và bao dung, mềm mại và chắt lọc…nhưng vẫn thấp thoáng một nụ cười hóm hỉnh và những nỗi đau không che dấu. Chỉ có trải qua mọi thử thách của cuộc sống, qua trăm nghìn tình huống khắc nghiệt buộc chủ thể phải tỉnh táo và quyết liệt, vô tư và trong sạch mới có được một cách ứng xử đầy tính nhân văn, những lát cắt phơi bày được bản chất hiện tượng xã hội. Tôi tin là những giây phút “ Lững thững xanh” đã giúp Nguyễn Anh Nông nhặt được ngay dưới bước chân mình, trong tầm nhìn ngay trước mắt mình bằng những gì độc đáo, cô đọng mà có tính ẩn dụ cao, nói được hồn vía, cốt lõi của hiện tượng, xã hội. Như một nghệ sĩ nhiếp ảnh tài năng, trong một ánh chớp vụt hiện, chiều sâu cốt lõi của sự vật đã được bộc lộ dưới một hình tượng mang tính triết học. Sức gợi, sức ngân của những dòng thơ cực ngắn mở ra những liên tưởng, xới những “vấn đề” vốn có sẵn trong lòng người đọc và hướng người ta cảm thụ và nghĩ rộng hơn mọi chiều hướng. Những cái nhìn có tính lịch sử và dân tộc, triết học và thời đại, dân dã và bác học…tất cả xen cài và hỗ trợ nhau, giúp cho “ Lững thững xanh” toát lên một trí tuệ, một bản lĩnh sống, một bộ lọc tinh nhạy, cung cấp một cách nhìn để người đọc suy nghĩ tiếp. Một bức tranh nhiều khoảng trống để người xem tự phát hiện thêm trong quầng sáng một ngọn đèn… 369 lát cắt cuộc đời, 369 bức tranh nhỏ trong hàng nghìn bài thơ ngắn của Nguyễn Anh Nông. Xin hái vội vài nụ nhỏ theo sở thích riêng của người viết để cùng kiểm nghiệm, thưởng thức: - Mái đình cong vầng trăng/ Cánh hạc bay ngang tầm tay với/ Bì bõm chiều sương giăng. - Khuê Văn Các trang văn/ Chảy lấp lánh ngàn năm lịch sử/ Chảy trong hồn nhân gian. - Chàng trai chần chừ/ Vực thẳm đèo cao không ngại bước/ Bồn chồn ngượng ngập ngõ hương đưa. - Vinh quang nặng như núi/ Có thể nhấc bổng lên chót vót/ Hoặc vùi sâu đáy mồ. - Khói rơm thơm trên đồng/ Dịu dàng ký ức ngày trở lại/ Ôm ngực nhớ cơn ho… Tôi nhớ lại bài thơ “Lửa và hoa”, Nguyễn Anh Nông từng viết: “ Đã không có lửa trong lòng Đừng mơ hái một cành hồng tặng ai” Với “ Lững thững xanh” tác giả chắc chắn có thể hái một mà hơn một để có chùm hoa tặng người yêu thơ. Tôi quí sự nhập cuộc năng nổ đến xông xáo của tác giả “ Lững thững xanh”, tôi cảm nhận được độ ấm nóng của ngọn lửa trong lòng Nguyễn Anh Nông. Chỉ mong sao: trong cuộc sống quá bộn bề, trong dòng chảy trong-đục có lúc xáo trộn của dòng đời… Nguyễn Anh Nông kịp lắng lại để khai thác vùng mỏ có trữ lượng cao, tinh luyện công phu để vàng ròng lấp lánh hơn nữa. Điều đó khó, nhưng chúng ta tin là tác giả đã có đủ điều kiện cơ bản để thành công: anh có sẵn “ lửa trong lòng”. Hà Nội, 13/12/2010 Nguyễn Bao Đọc sách LỮNG THỮNG XANH (Thơ Nguyễn Anh Nông-NXB Văn học, năm 2010) Lững thững xanh, cái tên nghe vừa yên bình vừa thư thái. Nó gợi cho ta cảm giác mát mẻ êm ái như giữa một ngày thu thả bước thong dong trên đồng cỏ, bỏ lại phía sau cái ồn ào xô bồ, sự hối hả bon chen trong guồng quay chóng mặt nơi phố phường chật chội. Nhẹ bước giữa màu xanh, thả bước vào mênh mông vô cùng vô tận, đó chẳng phải là sự trở về bản ngã của một con người dưới thiên chức nhà thơ đó sao! Mang tâm tưởng ấy, tôi đọc tập thơ Lững thững xanh của Nguyễn Anh Nông. Tập thơ có 369 bài mô “phỏng theo” thơ haiku Nhật Bản. Thơ haiku rất ngắn, song hàm súc, đa âm nghĩa. Một bài Hai Ku chỉ có 23 dòng. Dòng đầu và dòng thứ 3 đều có 5 từ, dòng thứ 2:7 từ. Khi nói tới Hai Ku người ta thường nghĩ đến nhà thơ Nhật Bản kiệt xuất Matsuo Basho (1644-1694). Thơ haiku thường mỗi câu đã đủ ý, có thể đứng độc lập; song cũng có nhiều bài các câu kết nối với nhau, bổ sung cho nhau làm nên sự lung linh tỏa sáng của bài thơ. Đề cập đến nhiều vấn đề, góc cạnh của đời sống, mối quan hệ. Tình yêu con người, vẻ đẹp thiên nhiên, nỗi bất hạnh và khổ đau, chia li và hạnh ngộ… tập thơ Lững thững xanh cho ta một cái nhìn bao quát về nhân tình thế thái, vẻ đẹp, long vị tha, cả những trở trăn, sự bất an giữa một xã hội đang từng ngày vận động; ở đó có những điều đã được định hình và chưa định hình theo một mô thức Hai Ku. Lật dở ta bắt gặp trong tập có những bài khá thú vị mà rất haiku: Ba Vì hay Tam Đảo/ Em đứng ngóng chờ ai? Gió mưa bao giờ tạnh. Mượn cảnh vật để nói tâm trạng con người: Tiếng ve kêu ruỗng đêm/ Ánh trăng non rạo rực/ Cây súng lạnh âm thầm. Cuộc chia tay người đi người ở, bài thơ 17 chữ không có chữ buồn nào, song người đọc vẫn nhận ra một nỗi buồn mênh mông xa xót: Sáng nay một mình anh/ Đi về miền sương gió giá lạnh/ Em nhìn theo âu sầu. Rồi nữa khi mùa xuân sang, mùa xuân đất trời mà cũng là mùa xuân của long người: Tiếng lá rừng xôn xao? Mùa xuân về trước ngõ, nôn nao/ Mắt môi như lộc biếc… Trong thơ haiku sự mặc định số câu trong bài, một số chữ trong một câu cho người đọc cảm thức chặt chẽ trong cấu tứ và khắt khe trong từ ngữ. Chính vì thế người viết thơ haiku không thể nhiều lời để diễn giải hay lý sự. Có lẽ nhận ra cái khó này mà trong tập Lững thững xanh có khá nhiều bài Nguyễn Anh Nông đã dùng thủ pháp mô phỏng, biến tấu haiku để chuyển tải điều mình muốn nói. Ở đây, tôi không dùng chữ” cách tân” vì e nó không ổn. Chính sự không trung thành này với “ niêm luật” haiku này mà anh đã có được những bài thành công: Cần cù/ Nàng mải miết cấy cày, gieo vãi/ Vun tháng ngày nặng hạt trỗ bông thơm. Hay: Đôi khi nhớ mẹ/ Không nói năng gì/ Buồn ngồi ngắm gốc si. Rồi: Mộng mơ/ Thầm yêu trộm nhớ/ Phía trời xa mưa gió phập phù. Song cũng có những bài cấu tứ lỏng lẻo, câu chữ khó hiểu: Chó chui gầm giường/ Mát và bụi/ Xì xèo, im tiếng. và: Không nói chẳng cười/ Lừ đừ xe ủi/ Hất tung âu sầu. Rồi: Chạng vạng/ Lá thu rơi/ Bì bõm mặt trời v.v… Sau những tập thơ, trường ca: Bàn tay lá cỏ, kỵ sĩ ngựa gỗ, Mây bay, Những tháng năm ở rừng, Trường Sơn…Nguyễn Anh Nông chuyển ngòi bút sang thể nghiệm ở dạng thơ ngắn. Sự mạnh dạn tìm tòi là điều đáng khích lệ dẫu có cái được và cái chưa được. Được và chưa được đều phải lao tâm khổ tứ. Không có sự thành công nào lại không đẫm đầy mồ hôi và nước mắt… Nhìn chung, thơ Nguyễn Anh nông cho tới tập Lững thững xanh đã có bước tiến khá rõ./. HN, 5/2011 Lê Văn Vọng ĐT: 0983774391 Levanvong09@yahoo.com.vn VỚI NGƯỜI THÁCH THỨC CHÍNH MÌNH (Nhân đọc bản thảo 1.160 bài thơ ngắn của Nguyễn Anh Nông) Phạm Thuận Thành Là bạn đồng môn từ thời Lục quân 1,cách nay ngót ba chục năm, nên tôi theo dõi khá sát “nghiệp thơ” của Nguyễn Anh Nông, hiện đang là nhà biên kịch của Điện ảnh Quân đội nhân dân. Từ Bàn tay lá cỏ (tập 1 xuất bản năm 1993, tập 2 xuất bản năm 1995), Kỵ sĩ ngựa gỗ, năm 1998, Mây bay, năm 2000, Những tháng năm ở rừng, năm 2005, đến tập gần đây nhất là trường ca Trường Sơn (NXB Văn học-2009), tổng cộng Nguyễn Anh Nông đã có 6 tập thơ riêng, tập sau luôn là sự vượt lên tập trước về nội dung và thi pháp. Mới đây lại được đọc tập thơ nghìn bài của anh, chủ yếu là thơ ba câu như một thể nghiệm Việt hóa thể thơ Hai Ku của Nhật. Cũng là một dấu mốc cách tân nữa của Nguyễn Anh Nông. Đọc một hơi nghìn bài thơ ba câu được đánh số thứ tự răm rắp, như kiểu bạn bè lâu ngày gặp nhau thì phải “trăm phần trăm” chén thứ nhất. Đọc lại lần nữa lai rai nhâm nhi để tận hưởng cái lạ, cái hay, để thấy được và cái chưa được trong từng “món thơ” bạn mời. Và chia sẻ cái ý tự thách thức chính mình của tác giả. Cái được thứ nhất là sự cách tân thể thơ Hai Ku. Tiếng Nhật đa âm tiết, ba câu nhưng yêu cầu câu đầu và câu ba gồm 5 âm, câu hai 7 âm, chuyển sang tiếng Việt tương ứng với 5 chữ và 7 chữ: Gã nông dân rất hay/ Bụng to, đầu to và miệng rộng/ Nuốt chửng cả trời sao. Nguyễn Anh Nông làm theo hướng căn cứ theo âm này vài trăm bài. Sau đó anh căn cứ vào câu có khi chỉ là một từ, vậy tiếng Việt có khi chỉ là một từ (từ đơn hoặc từ kép) và anh cũng làm theo hướng căn cứ vào từ vái trăm bài: Bơ phờ/ Hoa cuối vụ/ Bão tan. Lại có một số bài anh mở rộng số câu lên vượt ra khỏi ngưỡng ba câu, không gò bó vào hình thức nữa. Một sự cách tân nữa là mở rộng phạm vi đề tài, đưa đời sống đa dạng vào đầy ắp trong tác phẩm của mình. Ngũ trụ Hai Ku đều là sư, các vị làm thơ ắt là đầy chất thiền do môi trường sống, và thường gắn với thiên nhiên, phong cảnh cũng do môi trường sống khuôn ra. Vậy thể thơ Hai Ku đâu chỉ dành riêng cho các nhà sư và đâu phải chất thiền, chất phong cảnh là đặc điểm riêng của thể loại này, mà phải nói rằng chất thiền và chất phong cảnh là đặc điểm riêng của ngũ trụ Hai Ku thôi. Cái được thứ hai là Nguyễn Anh Nông đã vận dụng triệt để văn học dân gian vào thể thơ ngắn. Đó là chất trữ tình, chất dự báo, chất hài hước dí dỏm, chất đúc kết kinh nghiệm và cả chất đồng dao nữa. Vận dụng chứ không phải là làm theo. Bởi vì đây là làm thơ chứ không phải làm ca dao tục ngữ hay làm đồng dao. Cái được thứ ba cũng là yếu tố chính để Nguyễn Anh Nông khẳng định bản lĩnh nhà thơ của mình, đó là chất thơ, chất khái quát trong bài thơ dù chỉ là thơ ngắn ba câu. Yếu tố này tạo nên hiệu quả thẩm mĩ, hiệu quả nghệ thuật và sự dư ba ám ảnh người đọc. Hãy ngắm lại gã nông dân ki kĩ một chút xem. Cái gã này hay lắm, hay ở cái chí thôn Ngưu Đẩu, nuốt cả trời sao. Thế nhưng cái hình ảnh bụng to, đầu to, miệng rộng nó bất thường, nó đưa về hình ảnh của người suy dinh dưỡng, cả đời suy dinh dưỡng, đói khát, khổ sở, phải ăn toàn những thứ giời ơi để cầm hơi. Hay ở thế nói mát, nói bóng, nói ngược. Và chất nhân văn đã bộc lộ ra. Và đó chính là chất thơ khái quát về người nông dân. Nguyễn Anh Nông viết về làng quê cũng rất ấn tượng. Không phải anh chỉ viết mà còn vẽ và đặc tả: Mái đình cong vầng trăng/Cánh hạc bay ngang tầm tay với/ Bì bõm chiều sương giăng. Cảm xúc lịch sử, ý thức dân tộc cũng sâu sắc qua ít chữ thôi, và dòng chảy lịch sử cứ chảy tràn ra khỏi trang viết mà làm ướt, làm sạch người đọc: Khuê Văn Các trang văn/ Chảy lấp lánh ngàn năm lịch sử/ Chảy trong hồn nhân gian. Một điều đáng chú ý nữa là chất hóm, chất hài lấp lánh trang thơ. Giúp người đọc cả nghìn bài vẫn thấy thú vị. Đó chính là sự tinh tế của người viết làm chủ nguồn quặng chữ: Yêu quê hương hồn nhiên/ Chỉ quê mình mới đẹp mới xinh/ Xứ người toàn... đồ đểu. Hài đấy mà vẫn đầy tính giáo dục không đưa người ta vào chủ nghĩa tự nhiên hay cục bộ địa phương. Nhưng cái mạnh nhất vẫn là những bài thơ viết về các góc cạnh tâm tư tình cảm con người. Nghĩ về chum vại hứng nước mưa gốc cau làng quê mà viết ra thơ: Đầy chum đầy ché/ Mấy buồn vui sóng sánh hôm mai/Đong nỗi nhớ vơi đầy năm tháng. Nghĩ về thời gánh vã bỏng vai việc đồng áng cũng viết ra thơ: Gánh buồn vui xốn xang/ Bước năm tháng kĩu cà kĩu kịt/Rơi vãi không hề ít. Hai câu đầu nghiêm túc và đượm buồn, nhưng câu thứ ba chuyển ý bất ngờ làm cho bài thơ sáng lên chất hóm. Lại có lối tư duy dĩ độc trị độc trong thơ, thế nhưng càng ngẫm càng thấy hợp lí và hay độc đáo, có lẽ chỉ tư duy thơ mới có: Mang tuyết trắng nước Nga/ Sưởi mùa đông Hà Nội đêm nay/ Những câu thơ nghi ngút. Hà Nội đêm nay lạnh giá nhưng so với xứ tuyết trắng thì cái lạnh giá này có thấm tháp gì, bõ bèn gì. Viết về người con gái đẹp và sự đỏng đảnh nhân duyên: Trăng lưỡi liềm/ Loáng thoáng em treo giấc mộng vàng/ Tít mù xa mùa hứa râm ran. Bởi vì anh ngắm người đẹp bằng cả sự dung tục: Da diết nồng nàn/ Ánh mắt em ủ mầm hi vọng/Anh khát khao độc chiếm… Và khi thu phục được rồi thì: Vạm vỡ ngực trai cày/Xới tung đất đai hoang dại em/ Gieo hạt mầm trăm năm. Tôi được biết, Nguyễn Anh Nông sẽ chọn trong số hơn nghìn bài thơ này để in một tập trong năm nay, với cái tên thật ấn tượng: Lững thững xanh (tập 1), cái tên thơ giống như tính cách con người ta vậy: Lững thững sống, lững thững yêu và lững thững thơ. Cứ thế mà tồn tại, mà đánh đu với thơ, kẽo kẹt với cuộc đời. Xin chúc mừng đứa con mới ra đời của anh. 2010 P.T.T NHỊP ĐIỆU 3 - THƠ 3 CÂU CỦA NGUYỄN ANH NÔNG Tôi vẽ một loạt tranh chân dung theo ý tưởng “nhịp điệu 3” như: “3 gã đầu bạc” (Dương Trung Quốc, Đoàn Tử Huyến và Phạm Xuân Nguyên), “3 gã đầu trọc” (Trọng Đài, Thành Chương và Phạm Ngọc Tiến), “3 thoi đất Việt” (Thu An, Lê Minh Khuê và Nguyễn Ngọc Tư), “ 3 vị râu dài” ( Nam Sơn, Hữu Loan và Văn Như Cương), “3 trong 1” (Bộ 3 chân dung Trịnh Công Sơn) vv….Khi bắt gặp cả ngàn bài thơ làm theo thể “thơ 3 câu” của Nguyễn Anh Nông, thì như đâu đó chúng tôi có sự liên cảm. Biết Nguyễn Anh Nông khi tôi tham gia bloggers Hà Nội do nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo làm Chủ tịch hội “chơi” này. Anh Tạo khen thơ của Nguyễn Anh Nông, nên tôi tò mò tìm đọc trên mạng. Gần đây, Nguyễn Anh Nông giới thiệu với tôi một số tập thơ anh đã in: 1- BÀN TAY LÁ CỎ (TẬP 1) - NXB VĂN HỌC, 1993 2- BÀN TAY LÁ CỎ (TẬP 2) - NXB VĂN HỌC, 1995 3- KỴ SỸ NGỰA GỖ ( THƠ VIẾT CHO THIẾU NHI), 1998 4- MÂY BAY - 2000 5- NHỮNG THÁNG NĂM Ở RỪNG - NXB QĐND. 2005 6- TRƯỜNG CA: TRƯỜNG SƠN-NXB VĂN HỌC, 2009 7- LỮNG THỮNG XANH- NXB VĂN HỌC, 2010 Và 2 tập chuẩn bị in: 1- TRƯỜNG CA: GỬI BIN GHẾT ( BILL GATES)& TRỜI XANH 2- THONG DONG MÂY TRẮNG Đặc biệt, anh còn có hơn 1.000 bài thơ 3 câu - chính xác là 1.160 (một ngàn, một trăm, sáu mươi) bài, 1.160 bài thơ này đã được 4 vị có chuyên môn chọn ra 300 bài. Rồi tác giả lại chủ động rút tỉa chỉ còn 50 bài được xem là những bài thơ hay, mà trong đó có những tứ thơ rất quý, như: “Mái đình cong vầng trăng / Cánh hạc bay ngang tầm tay với / Bì bõm chiều sương giăng”; “Khói rơm thơm trên đồng / Dịu dàng ký ức, ngày trở lại / Ôm ngực nhớ cơn ho”; “Người đi vời vợi xa / Gió mưa bay mịt mờ nỗi nhớ / Cây bằng lăng trụi trơ”; “Người đi theo bóng núi / Khuất chìm năm tháng xa /Sim mua tím sớm chiều”; “Cối đá hao mòn / Thời gian xoay vần số phận / Tiếng chày khua vang mãi đâu đây” hoặc “Tiếng guốc / Khua mòn đêm / Hay tiếng chổi gầy vang phố vắng”… Tôi bỗng nhận ra một Nguyễn Anh Nông say thơ đến khao khát, cuồng nhiệt và bút lực thật dồi dào, sung mãn. Chúc Nguyễn Anh Nông cố công đãi cát, thể nào cũng nhặt được vàng. Là người yêu thích những câu thơ hay và cảm nhận bằng xúc cảm hội họa nên tôi bộc bạch vài nhời khi mới “chạm” vào thơ Nguyễn Anh Nông. Cảm tình của tôi là rất nể trọng sức lao động nghệ thuật của anh, nhưng thật lòng tôi vẫn muốn Nguyễn Anh Nông hướng sáng tác của mình theo phương châm: “Quý hồ tinh bất quý hồ đa” (貴乎精,不貴乎多) như cổ nhân đã dạy, thì sự “Đãi cát tìm vàng” trong cái mênh mông của biển khơi ngôn ngữ kia mới chứng tỏ tài hoa. Họa sỹ Đinh Quang Tỉnh & BTV.Vũ Thanh Nhàn NHỮNG VIÊN BI VE
Tập thơ “Lững thững xanh" của Nguyễn Anh Nông Tác giả Nguyễn Anh Nông vừa cho ra mắt và tặng bạn bè tập thơ “Lững thững xanh” do Nhà xuất bản Văn Học ấn hành. Tập thơ “áp tết” giới thiệu 369 bài thơ - tất nhiên thơ của Anh Nông là thơ ngắn, ngắn nhưng lại không muốn bỏ qua bất kỳ khoảnh khắc nào của thiên nhiên và cuộc sống xung quanh để bày tỏ lòng mình. Thơ anh ví như những viên “bi ve” đủ sắc màu, cứ búng hoài vào đời để rồi tự nó vọng lại cái hồn cái phách của cuộc sống. Quả thật, đọc những vần thơ của Nguyễn Anh Nông cứ như đang được cầm tay người bạn Xứ Thanh: “Đôn hậu, hiền lành/ Thơ cũng lành cũng thật như đếm…”(!). Chúng tôi viết những dòng này như một lời cảm ơn chân tình khi nhận được tập thơ “Lững thững xanh” anh gửi tặng. 09 trong 369 bài thơ ngắn dưới đây của Nguyễn Anh Nông, số 9 lẻ nhiều như những viên bi ve vọng đến cũng đủ khuyến khích một người lười đọc thơ như tôi nhâm nhi “Lững thững xanh” với ly rượu mạnh trong những đêm lạnh một mình. (ĐQT) 1. Gã nông dân rất hay Bụng to, đầu to, miệng rộng Nuốt chửng cả trời sao. 2. Đôn hậu, hiền lành Thơ cũng lành cũng thật như đếm Ăn mày năm tháng xa. 3. Rượu bia thường sủi bọt Thơ bay tít tắp nắng lên hương Mặt trời mọc từ bụng. 4. Tha hương bỏ mặc em Áo cơm xứ người lạnh tâm can Đôi khi chẳng là mình. 5. Ngỡ đời suôn sẻ mãi Gió bay gặp tường cao, núi dựng Loay xoay vòng trời hẹp 6. Ôi trái tim Đan Kô Rực sáng trời chân lý ngàn năm Chúa cũng hay ngái ngủ. 7. Mọi sự thật đều cay? Như bát ớt đổ vào cuống họng Ai sặc sụa nỗi buồn. 8. Ba Vì hay Tam Đảo Em đứng ngóng chờ ai, hỡi em Gió mưa bao giờ tạnh. 9. Ai bứng em khỏi anh Ai bứng hoa trồng trên đỉnh núi Anh bỗng hóa dại điên. Batinh.com http://www.batinh.com/index.php?option=com_content&view=article&id=517:nhng-vien-bi-ve-tac-gi-nguyn-anh-nong-va-cho-ra-mt-va-tng-bn-be-tp-th-lng-thng-xanh-do-nha-xut-bn-vn-hc-n-hanh-tp-th-ap-tt-gii-thiu-369-bai-th-tt-nhien-th-ca-anh-nong-la-th-ngn-ngn-nhng-li-khong-mun-b-qua-bt-k-kho&catid=1:news&Itemid=13 PGS,TS CHU VĂN SƠN- GỬI NGUYỄN ANH NÔNG NGÀY 28/9/2011 Nguyễn Anh Nông - Nguyễn Khoa Linh Trong năm vừa rồi, do duyên văn chương thế nào đấy mà tôi được quen hai người bạn thơ gốc Thanh. Một vị Hậu Lộc(thực ra là Quảng Xương), đầu tỉnh( hai huyện Quảng Xương và Tĩnh Gia gần nhau - NAN chú thích), một vị Tĩnh Gia, cuối tỉnh. Gốc và ngọn rau má giờ trổ ở Hà thành, nhưng rễ nó vẫn uống nước nguồn xứ Thanh. Điều thật thú vị là cả hai vị đều làm thơ ngắn. Cát Điền Nguyễn Khoa Linh thì chuyên thơ hai câu (đến nay anh đã cho in ba tập Nghiệm 1, Nghiệm 2 và Nghiệm 3). Còn Nguyễn Anh Nông sau khi xoãi bước dong duổi với trường ca Trường Sơn, không biết do mỏi cẳng hay chỉ thuần túy thích đổi món, mà giờ về nắn nót lững thững với thơ ba câu. Lững thững xanh là tập ba câu đang đến với chúng ta theo cái cách lững thững như vậy. Nhìn kĩ, hình như, thơ hai câu của Nguyễn Khoa Linh thoát thai từ các cặp câu đối và cặp ca dao dân gian. Trong khi, ba câu của Nguyễn Anh Nông xem ra lại nảy từ Haiku Nhật Bản. Có thể nói đấy đều là những mạnh dạn trong các hướng thử nghiệm để mong làm mới thơ của những người tha thiết với thơ. Thực ra Nguyễn Anh Nông vừa làm trường ca, vừa làm đoản thi. Vừa có sở Trường ca, vừa có sở đoản thi. (Viết đến đây thì bế tắc suốt hơn một năm nay…) PGS,TS CHU VĂN SƠN NGUỒN:http://www.tamtay.vn/home http://www.thivien.net/viewpoem.php?ID=36652
|